Nhớ con dông Phan Dzí Cửa, Cái thích thú của những chuyến đi không chỉ là được nhìn ngắm cảnh sắc, gặp bạn bè…

Nhớ con dông Phan Dzí Cửa
Cái thích thú của những chuyến đi không chỉ là được nhìn ngắm cảnh sắc, gặp bạn bè tâm giao, mà nó còn được thưởng thức những món ngon bên chiếc bếp cồn. Không cần những món mắc tiền, mà dù chỉ bỏ vài ba ngàn cũng làm ta nhớ hoài.
Bỗng dưng hôm nay lại bần thần hồi tưởng lại cái ngày xưa, lúc còn thơ bé. Ngày ấy, vào cái thời mà người dân trong nước quen gọi là "bao cấp", để đi từ Cam Ranh (Khánh Hòa) vào Phan Rí Cửa (Bình Thuận) phải xếp hàng mua vé từ ngày hôm trước, để qua sáng hôm sau đi. Quê nội tôi ở Phan Rí, nên từ nhỏ chẳng nhớ bao nhiêu lần lên xuôi ngược cung đường này. Dần dà, những biến đổi hai bên đường đều được tôi cho vào ký ức. Nếu mua vé chậm phải chịu trận trong những chiếc xe Renault gác thêm 2 ống than to tướng. Cùng với vận nước, tôi cũng nóng lên cùng với những chiếc xe than.
Xe từ Cam Ranh chỉ chạy đến Phan Rang tại bến xe ngoài, rồi từ đấy qua bến xe trong, mua vé để đi về Phan Rí. Nếu hôm nào có tiền, má cho tụi tôi ngồi trên Cyclo. Còn hôm nào không có, má dắt anh em tụi tôi đội nắng cuốc bộ. Thời ấy chân ngắn, trời nắng bước trên con đường sao mà xa vạn dặm, đi hoài mà chẳng tới nơi. Lắm khi lên xe rồi còn chẳng yên, vì đến chậm nên những chỗ ngon, được ngồi gần tài xế đã bị người khác chiếm mất, chỉ còn những chỗ gần phía bình than to tướng. Cứ mỗi lần để xe bốc lên, lơ xe lại kéo cần, làm cho than hừng tạo ra năng lượng để cho xe chạy nhanh hơn. Những lúc đó hơi nóng như phà vô trong mặt muốn cháy luôn cả những cọng lông măng. Chưa hết, cứ mỗi lần kéo, vài cục than rơi xuống, lăn long lóc trên đường.
Quê nội tôi có bề dày lịch sử còn hơn cả nơi tôi sinh ra. Là một thị trấn nằm sát cửa sông Lũy đổ ra biển, Phan Rí thành đô thị khá sầm uất. Nơi đó tập trung khá nhiều sắc dân đến buôn bán, sinh sống. Từ người Việt, người Hoa và đương nhiên là cả người Chăm.
Trong ký ức, hình ảnh những người vượt biên bị trói ngược tay ra sau, bắt quỳ xuống dưới đất bị công an đánh đập ngay trước chợ Phan Rí để răn đe luôn ám ảnh đến tận bây giờ. Cũng chính tại ngôi chợ này, bác Tám gái vẫn thường mua con dông về để đãi mỗi khi chúng tôi về thăm nội. Dông ngày ấy nhiều lắm, cứ ra chợ là nhìn thấy bán la liệt. Mà, ngay trên bãi cát ở ngoài Dương, dông nhiều vô kể. Còn bây giờ, dông tự nhiên chẳng còn bao nhiêu, người ta phải nuôi dông mới đủ cung cấp. Dông ngày ấy không phải là đặc sản, mà chỉ là món ăn bình dân. Còn bây giờ là đặc sản trong các nhà hàng sang trọng.
Tôi ăn dông, thỉnh thoảng có theo đám bạn đồng niên đi bắt dông trên những bãi cát nhưng chưa bao giờ thấy người ta cực khổ đào dông trên những bãi cát nóng bao giờ. Hôm rồi, nhân chuyến đi trekking, cháu tôi mới chỉ cho thấy, để bắt được những con dông, người ta phải nhọc công biết chừng nào.
Trong một lần đi giang hồ ra Cam Ranh, anh Vũ Ngọc Giao giới thiệu cho tôi bài thơ "Gởi các chú dông ở Phan Rí" của nhà thơ Đoàn Thạch Biền, con dông trong bài thơ được dùng để kể về thời đói khổ kể từ khi "giặc từ Bắc vô đây".
"Nay chiến tranh đã dứt
Bị đuổi ra khỏi hang
Các chú chạy quanh quẩn
Còn ta đi lang bang."
Tôi search trên Internet chỉ thấy toàn nói về dông Phan Thiết, mà không hề nói đến dông Phan Rí. Cho dù dông ở nơi nào cũng đều ngon như nhau. Đêm về bắc một bếp than, bắt vài con dông bỏ lên nướng, rồi làm vài chai là tuyệt cú mèo.
Hôm nay, bỗng dưng lại nhớ về con dông, nhớ về những người bạn, những người thân thích, nhớ về cuộc tình thời niên thiếu. Có những thứ đã qua đi, nhưng có những cái chợt về nguyên vẹn như chưa hề quên mất điều gì. Có khi đã già mất rồi. Vì người già thường hay nhớ về dĩ vãng.

Ảnh: Để bắt được một con dông, người ta phải đào hang thành những cái hố như trong hình.
Mọi người xem thêm thong tin tại: wetrek.vn/san-pham/bep-da-nang.htm

Comments are closed.