NHÂN TRƯỜNG HỢP TÂM SỰ CỦA NGƯỜI MẸ

NHÂN TRƯỜNG HỢP TÂM SỰ CỦA NGƯỜI MẸ – CHIA SẺ MỘT SỐ THÔNG TIN KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG LÒNG TỰ TÔN CHO TRẺ
Trùng hợp làm sao, trong sáng nay mình đọc được hai bài của hai người mẹ, một đằng là nỗi băn khoăn làm sao dạy con điều hay lẽ phải trước một xã hội ngày một suy đồi (1), một bên là khuyên con (gái) sống ngẩng cao đầu, thành thực với bản thân và với những người xung quanh… (2)
Cả hai bài này, cuối cùng, đều dẫn đến hai khái niệm rất quan trọng trong lý thuyết tâm lý học: self-concept (hình ảnh bản thân) và self-esteem (sự tự tôn hay ý thức về giá trị của bản thân), trong đó self-concept là thứ mà môi trường và con người xung quanh tác động vào, tạo ra ấn tượng cá nhân về chính bản thân mình (mình là ai, mình như thế nào…) và self-esteem rõ ràng được tạo ra từ cái self-concept này, tuy thế, nó đặc biệt ở chỗ nó là suy nghĩ của cá nhân về bản thân họ – một thứ có thể coi là nguồn khởi cho hai khái niệm tương đối “mốt” hiện nay là “growth mindset” và “fixed mindset”. Và bởi vì self-esteem của trẻ em là thứ cần được nuôi dưỡng bởi thời gian, nên hầu hết cách mà người lớn tác động vào sẽ đều phải thông qua việc gây dựng một hình ảnh “đẹp” cho self-concept của đứa trẻ, để đứa bé dần lớn lên với cảm giác tự tin vào giá trị của mình khi đối diện với cuộc đời nhiều biến động. (3)
Vậy thì những người mẹ trong hai bài viết trên có thể góp được bao nhiêu phần trăm vào công cuộc xây dựng self-esteem cho đứa trẻ? Và việc này sẽ duy trì được bao lâu cũng như bị ảnh hưởng như thế nào trong suốt cuộc đời?
1, Ở câu hỏi thứ nhất, dựa trên mô hình tổng hợp (được cụ thể hoá) ở hình bên dưới, có thể thấy rằng khá nhiều yếu tố liên quan tới thế giới xung quanh có khả năng tạo nên sự thay đổi trong cách một cá nhân tự nhìn nhận giá trị của bản thân: từ việc nghe người khác nhận xét về mình, cho tới việc thực hiện một nhiệm vụ có thành công hay không, môi trường gia đình thế nào, niềm tin của bản thân ra sao, ý thức về sự say mê của mình có rõ ràng không, cho tới cả những vấn đề như ngoại hình cũng như thành công trong trường học. Những yếu tố này sẽ có độ di động và thay đổi qua những thời kỳ khác nhau, cũng như tầm ảnh hưởng của cha mẹ tới con cái cũng sẽ có sự biến đổi ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời. Điều đáng quan tâm là dựa trên kết quả nghiên cứu tập trung vào đối tượng trẻ vị thành niên (4) cũng như nhiều nghiên cứu khác tìm mối liên quan giữa phong cách dạy con (parenting style) của các bậc cha mẹ với kết quả học tập con đạt được sau này (5), có thể thấy rõ rằng quả là việc cha mẹ có lắng nghe, thấu hiểu, chấp nhận và định hướng con hay không sẽ có tác động rất lớn tới sự hình thành và phát triển self-esteem của hai độ tuổi này nhiều nhất.
Quay trở lại hai bài viết ban đầu, có thể thấy nỗi băn khoăn của người mẹ thứ nhất và lời tâm sự của người mẹ thứ hai ứng với giai đoạn trẻ em và thanh thiếu niên. Để giải quyết vấn đề của người mẹ thứ 1 (nỗi lo sợ về ảnh hưởng của xã hội lên cách con nhìn nhận giá trị cuộc sống cũng như bớt niềm tin vào những gì mẹ dạy), rõ ràng, cần phải chú ý tạo điều kiện để tăng các “biến” gây ảnh hưởng tới cảm nhận của cháu về tốt/xấu cũng như cách cư xử đúng lên, ví dụ như: làm gương cho con, khen ngợi con khi con làm “đúng” (trong khi xung quanh mọi người làm “sai”), cho con tiếp xúc nhiều hơn với những người có cùng quan điểm và hệ giá trị…
Tương tự như thế, lời tâm sự của người mẹ thứ hai với con thực sự là một biến quan trọng giúp đứa con đang trogn độ tuổi trưởng thành xác định được giá trị và niềm tin của mình. Để củng cố cho những điều mình nói/viết như thế, việc lựa chọn môi trường học tập với những giáo viên và học sinh có sự tương đồng trong quan niệm về giá trị với người mẹ, cũng như cung cấp cho con thêm tài liệu (sách báo, bài viết, bài nói chuyện…) chuyển tải thông điệp tương tự sẽ giúp cháu khẳng định hướng phát triển bên trong, từ đó nhìn nhận đúng đắn hơn những hiện tượng xã hội diễn ra trước mắt.
2, Với câu hỏi thứ hai, mình tìm một nghiên cứu có tính tổng hợp cao hơn. Những thông tin dưới đây mình lấy trong một nghiên cứu tổng kết từ 3 nguồn lớn: một bài meta-analysis của 86 bài báo được xuất bản trước năm 2001 liên quan tới đề tài này + một bài quy mô lớn có tính liên ngành với đối tượng từ 9 tới 90 tuổi năm 2002 + một bài khác tìm nguyên nhân – hệ quả trong thời gian dài trên các cá nhân từ 25 tới 96 tuổi năm 2004 (6). Kết quả tổng hợp cho thấy sự hình thành, phát triển và thay đổi của self-esteem có thể chia theo 4 nhóm độ tuổi (trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, người trưởng thành và người già), và dựa trên thông tin này, chúng ta có thể cân nhắc để biết được những yếu tố nào ở giai đoạn nào sẽ có tầm ảnh hưởng lớn tới cảm nhận của người đó. Cụ thể là:
TRẺ EM: trên thực tế, các em là đối tượng có self-esteem tương đối cao do các em vẫn có xu hướng lấy bản thân làm trung tâm và bởi thế nhiều lúc tự đánh giá mình cao quá thực tế :)). Tuy nhiên trong quá trình lớn lên, các em dần học cách dựa vào thông tin đánh giá từ phía bên ngoài về mình + so sánh bản thân với người xung quanh để nhìn nhận lại giá trị của mình, vì lý do này mà càng lớn, độ self-esteem của các em càng giảm dần theo thời gian và trở nên có cơ sở rõ ràng hơn. Chính vì lý do này mà nếu người lớn dành cho các em nhiều nhận định mang tính tiêu cực thì các em dần sẽ đánh giá bản thân theo hướng này. Các lĩnh vực sẽ hình thành trong quan niệm về bản thân của các em ở thời kỳ này thường bao gồm: nhận định (của người khác) về năng lực học tập, các kỹ năng giao tiếp xã hội, sự dễ thương/đáng yêu cũng như một số đặc điểm tính cách.
THANH THIẾU NIÊN: self-esteem tiếp tục suy giảm khi người ta bước vào độ tuổi này. Một trong những mối quan tâm cũng như nguyên nhân hàng đầu cho sự giảm sút này chính là ý thức về hình dáng cơ thể của mình cũng như những vấn đề liên quan tới thời kỳ dậy thì. Không chi thế, năng lực tư duy trừu tượng phát triển khiến ý thức về bản thân tăng lên, những suy nghĩ về tương lai cá nhân dần định hình, từ đó các em dần hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc bỏ lỡ cơ hội hay những việc khiến người khác thất vọng về mình…, cũng như sự thay đổi môi trường học tập trong đó yêu cầu ở bậc trung học dần trở nên cao và khó khăn hơn (ghi chú: Mỹ) lại càng có tác động tới các em.
Ở lứa tuổi này, điều đáng chú ý là thường các em nam giữ được self-esteem ở mức cao hơn các em nữ mặc dù lúc nhỏ, các em có cảm nhận như nhau về bản thân.
NGƯỜI LỚN: may mắn thay, khi thành người lớn, self-esteem của chúng ta dần dần lại tăng lên, trong đó đạt đỉnh cao ở quanh lứa tuổi 60 (hẳn là lúc ấy thiên hạ chả còn là cái “cóc khô” gì :D). Những nhân tố tạo nên cảm nhận tốt về giá trị bản thân trong thời kỳ này là quyền lực, địa vị, khả năng kiểm soát làm chủ bản thân, có thành tựu trong công việc… Đây cũng là khoảng thời gian mà các đặc tính cá nhân/tính cách đạt độ ổn định chứ không thay đổi như ở thời kỳ hình thành trước đó.
Tương tự như ở giai đoạn trước, trong giai đoạn này, phái nữ cũng vẫn có xu hướng đánh giá bản thân thấp hơn nhiều so với phái nam. Điều này chỉ thay đổi khi cả hai giới về già. Điều này thường được lý giải như một hệ quả của tác động xã hội liên quan tới quan niệm về giới, và có lẽ sẽ thay đổi khi chúng ta thay đổi cách nuôi dạy các cô bé của chúng ta hôm nay và trong tương lai chăng?!
TUỔI GIÀ: quanh tầm 70 tuổi, cảm giác mình có giá trị mất dần ở con người. Lý do chính cho hiện tượng này chính là sự thay đổi rất lớn về vai trò của cá nhân đó trong các tổ chức/mối quan hệ họ có, ví dụ như: về hưu, người bạn đời mất trước, bệnh tật… Sự thay đổi này khiến họ thay đổi theo trong cách cư xử, tuy vẫn duy trì một cảm nhận nhất định về ý nghĩa sự tồn tại của mình, nhưng họ đã cảm thấy thoải mái hơn khi thừa nhận sai lầm cũng như các mặt còn hạn chế của mình; không còn nhu cầu thể hiện trước mặt người xung quanh nữa.
Như vậy, self-esteem có độ dao động theo một biên độ nhất định trong từng giai đoạn cuộc đời, trong đó nó đạt đỉnh cao ở những năm đầu khi trẻ còn nhỏ và giảm dần trong suốt thời kỳ đi học, sau đó tăng trở lại khi người ta đi làm (và kiếm ra tiền :D) cho tới những năm 60 tuổi, sau đó tầm 70 tuổi thì nó lại suy giảm. Sự thay đổi mang tính chu kỳ này sẽ có mức độ lớn nhỏ khác nhau, tạo ra những người có tự tôn cá nhân cao và những người có cảm giác giá trị của mình thật nhỏ bé với những biểu hiện rất rõ ràng trong cuộc sống. Nhiều khi chỉ thông qua những câu nói hoặc nội dung tưởng như rất tự nhiên nhưng lại ẩn chứa rất nhiều thông điệp về sự tự ti và bất ổn bên trong con người đó (7):
– “How nice she/he is” (muốn được người khác có cảm tình với mình, muốn tỏ ra thân thiện)
– “Poor me!” (khổ thân tôi – kể lể, phàn nàn để thu hút sự chú ý)
– Tỏ ra thật nam tính (tìm cách chứng tỏ mình cứng cỏi để che giấu rằng mình đang sợ hãi, đôi khi sự chứng tỏ này thể hiện qua việc bốc phét về bản thân hoặc dùng từ ngữ thô tục để lấn lướt người khác, bao gồm cả việc dùng quá nhiều ngôn ngữ chửi thề khi nói)
– Tìm mọi cách chứng tỏ rằng mình tuyệt vời nhất, mình giỏi hơn người khác (bằng cách phét lác về chiến công của bản thân cũng như tầm quan trọng của mình với người xung quanh).
Ngoài ra, một thông tin không kém phần quan trọng cũng trong nghiên cứu tổng hợp này là sự phát triển theo hướng tăng tiến hoặc giảm đi của lòng tự tôn cá nhân ở giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề cho quá trình đi lên/đi xuống của nó ở giai đoạn sau. Điều đó có nghĩa là nếu bạn nuôi dạy con tốt ở giai đoạn nhỏ và giúp cháu nhìn nhận bản thân một cách tích cực, hiểu rằng bản thân mình mang nhiều giá trị thì ở những giai đoạn sau đó, nó sẽ vẫn tiếp tục tăng hoặc nếu có giảm đi cũng sẽ khôgn đáng kể so với những đứa trẻ có cảm giác mình kém giá trị. Đây chính là lý do vì sao lý thuyết về attachment (sự gắn bó mẹ con) có ý nghĩa rất lớn, trong đó cách cư xử của mẹ nói riêng và người thân nói chung với bé khi còn nhỏ sẽ tạo tiền đề cho cả cuộc đời bé sau này (8).
Hy vọng những thông tin này sẽ giúp các mẹ nếu có băn khoăn sẽ bớt băn khoăn hơn, cũng như đưa ra được nhiều quyết định hợp lý cho sự phát triển nội lực của các bạn nhỏ (đồng thời thấu hiểu hơn những người ở các độ tuổi khác nhau đang sống quanh mình).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) https://www.facebook.com/hoa.hoangtquynh/…/10155238178228950
(2) https://www.facebook.com/hoang.huong.967422/posts/10207661209363134
(3) Johnston, J. E. (2009). The complete idiot’s guide to psychology. New York, N.Y: Alpha Books.
(4) Wolman, C. & Basco, D. (1994). Factors influencing self-esteem and self-consciousness in adolescents with spina bifida. Journal of Adolescent Health, Vol 15(7), Nov 1994, 543-548. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7857952
(5) https://www.facebook.com/photo.php?fbid=195299467640720&set=a.111860609317940.1073741830.100014820031049&type=3&theater
(6) Robins, R. & Trzesniewski, K. (2005). Self-Esteem Development across the Lifespan. Current Directions in Psychological Science, Vol. 14, No. 3 (Jun., 2005), pp. 158-162
(7) Porto, D. (2007). https://www.slideshare.net/dianacporto/self-esteem
(8) Public Health Agency of Canada (2012). http://www.phac-aspc.gc.ca/…/…/ffc-ief/book-livre-5-eng.php…

One thought to “NHÂN TRƯỜNG HỢP TÂM SỰ CỦA NGƯỜI MẸ”

Comments are closed.